Saturday, 11 July 2015

03 Dưỡng sinh chủ 養生主


Dưỡng sinh chủ
I)


II)

   滿


III)
使

IV)


V)












 
(I)
Đời ta thì có bờ bến, mà cái biết thì không bờ bến. Lấy cái có bờ bến theo cái không bờ bến, nguy mà thôi! Kẻ đã biết vậy mà làm biết, nguy mà thôi vậy! Làm thiện không gần với danh; làm ác không gần với hình phạt; dựa theo sống lưng để làm đường dọc (1); có thể giữ được mình, có thể toàn được sống, có thể nuôi được phần thân thiết, có thể hưởng được hết tuổi trời.
(II)
Bào Đinh mổ trâu cho Văn Huệ Quân. Nơi tay chạm, nơi vai tựa, nơi chân đạp, nơi gối tỳ, tiếng kêu lát chát; dao đưa soàn soạt; không tiếng nào không đúng cung bậc, hợp với điệu múa Tang Lâm (2), rồi đúng với khổ dồn bài nhạc Kinh Thủ (3)!
Văn Huệ Công nói:
— Ồ! Nghề giỏi thật! Giỏi đến thế sao?
Bào Đinh buông dao, thưa rằng:
— Cái tôi ham là đạo, còn tiến hơn nghề... Ban đầu, lúc tôi mới mổ trâu, trông thấy không con nào không phải là trâu. Sau ba năm, chưa từng thấy con trâu nào toàn vẹn cả! Đương lúc này tôi lấy thần gặp, chứ không lấy mắt trông. Ngũ quan biết nên dừng, mà thần muốn đi, nương vào lẽ trời. Tách gân lớn, lùa khớp lớn, nhân chỗ cố nhiên của nó. Nghề của tôi, bắp thịt còn chưa từng xấu qua, huống chi là trối lớn! Nhà bếp thạo, hằng năm thay dao, vì là cắt. Nhà bếp họ hằng tháng thay dao, vì là chặt. Nay dao của tôi mười chín năm rồi... Số trâu mổ có mấy nghìn rồi... Vậy mà lưỡi dao như mới rèn xong! Những đốt kia có kẽ, xổng xểnh vậy, đưa dao vào đấy, tất là có chỗ thừa. Vì thế mười chín năm mà lưỡi dao như mới rèn xong! Tuy vậy, mỗi khi đến chỗ vướng, tôi thấy nó khó làm, sậm sột, đem lòng sợ. Nhìn phải dừng; làm phải chậm; động dao rất sẽ; "xoạch" cái đã đứt như bùn rơi xuống đất. Cầm dao đứng đó, vì nó nhìn quanh, vì nó lơ láo, thỏa lòng vì dao tốt, đem cất nó đi.
Văn Huệ Công nói:
— Hay biết bao! Ta nghe lời nói của Bào Đinh, biết được phép "nuôi sống".
(III)
Công Văn Hiên thấy quan Hữu Sư liền giật mình nói:
— Ấy người nào vậy? Làm sao lại một chân (4) vậy? Trời làm chăng hay người làm chăng?
Đáp rằng:
— Trời đấy, không phải người đâu! Trời sinh người ấy, bắt phải một chân. Người ta có làm chỉ là bề ngoài thôi. Vì vậy biết là trời chứ không phải người.
(IV)
Con trĩ ở chầm, mười bước một lần mổ, trăm bước một lần uống, không có mong nuôi ở trong lồng. Vẻ tuy khỏe, chả thích vậy!
(V)
Lão Đam chết, Tần Thỉ (5) tới viếng, gào ba tiếng mà ra. Học trò nói:
— Không phải bạn của thầy sao?
Đáp rằng:
— Phải.
— Thế mà viếng như thế được sao?
— Phải! Trước kia ta cho hắn là người ấy, nhưng nay ta xem ra không phải. Ban nãy ta vào mà thăm có người già khóc hắn, như khóc con mình! Có người trẻ khóc hắn, như khóc mẹ mình! Hắn sở dĩ hợp với họ, tất có những chuyện không cần (6) nói mà nói, không cần (6) khóc mà khóc. Thế là trốn trời, nặng tình, quên phần mình đã nhận. Người đời xưa gọi đó là mang tội trốn trời. Thoắt đến, là thời của thầy! Thoắt đi là thuận cho thầy! Yên thời mà ở thuận, buồn vui không thể vào (7) được. Người đời cho thế là cởi cái treo (8) của Thượng đế. Chỉ trỏ cho đến cái làm củi là cùng. Lửa truyền đi, không biết được chỗ hết của nó.







ed. 2023-06-29















Thursday, 9 July 2015

Trang Tử Nam Hoa Kinh: Tài liệu tham khảo






(1)  http://www.sidneyluo.net/d/d.htm
http://www.hkshp.org/cclassic/modernchi/ZhuangZiJiShii.htm
(3) Trang Tử Nam Hoa Kinh , bản dịch của Nhượng Tống, Nhà xuất bản Tân Việt (in lần thứ hai), 1944.
(4) Trang Tử Nam Hoa Kinh , Thu Giang Nguyễn Duy Cần dịch và chú giải, Nhà sách Khai Trí xuất bản, Saigon, 1962.
(5) Trang Tử Nam Hoa Kinh , Nguyễn Hiến Lê (giới thiệu và chú dịch), Nhà xuất bản Văn Hóa - Thông Tin, TP HCM, 1994.







Wednesday, 1 July 2015

02 Tề vật luận 齊物論 - chú thích


ghi chú * (của Nhượng Tống)

(*1) Tề vật luận: Bàn về lẽ các vật đều bằng nhau. 

(*2) sáu hợp là trên, dưới, bốn bề.
(*3) dùng "chim sa, cá lặn" mà tả người đẹp, là theo điển này.



chú thích (hv-ebook)


(1) Tử Kì: nguyên văn Tử Kì . Bản dịch ghi là Tử Cơ.
(2) thờ thẫn: bản sách in là thơ thẩn (không hợp nghĩa).
(3) thờ thẫn như mất lứa đôi: nguyên văn tháp yên tự táng kì ngẫu  thẫn thờ, ngơ ngác, hình dáng như kẻ mất hồn.
(4) chuyện tựa kỉ ngày nay...: người tựa kỉ bây giờ... 

(5) Trí lớn nhàn nhàn! Trí nhỏ lan man: nguyên văn: Đại trí nhàn nhàn, tiểu trí gian gian ,  "Biết lớn" (đại trí): biết một cách bao trùm, rộng rãi; "biết nhỏ" (tiểu trí): biết một cách chia lìa, vụn vặt.
(6) nguyên văn: Đại ngôn viêm viêm, tiểu ngôn chiêm chiêm ,  "Lời lớn": cao xa, hay đẹp, sáng rõ; "lời nhỏ": lải nhải, rườm rà, luộm thuộm.

(7) Thần Vũ : tên tôn xưng vua Vũ  nhà Hạ . Mới đầu là bề tôi vua Thuấn , nhờ có tài đức, có công trị lụt, được vua Thuấn truyền ngôi cho.
(8) tiếng chim học nói: nguyên văn cấu âm  tiếng chim con.
(9) cốt đạo: nguyên văn Bỉ thị mạc đắc kì ngẫu, vị chi đạo xu ,  Đó và Đây không thành đôi đối đãi nhau, thế gọi là cốt tủy của Đạo. 
(10) xin ghi riêng ra ở đây đoạn dịch không có trong bản Hán văn dùng tham khảo cho hv-ebook này ( 
http://www.sidneyluo.net/d/d.htm): Dong dã giả, dụng dã; dụng dã giả, thông dã; thông dã giả, đắc dã, thị đắc nhi ki hĩ , ; , ; , ,  Thường tức là dùng. Dùng tức là thông. Thông tức là được. Vừa được là sắp sửa rồi (Nhượng Tống dịch). Theo học giả Nghiêm Linh Phong , người đời sau đã thêm hai mươi chữ Hán này vào văn bản cổ.
(11) Chiêu Văn : người xưa giỏi đánh đàn.
(12) Sư Khoáng : một nhạc công thời xưa, rất sành âm luật.
(13) Huệ Tử : nhà biện luận thời xưa.
(14) "trắng, dắn": tức là lập luận kiên bạch  (cứng và trắng tách biệt) của Công Tôn Long  (320 trước CN - 250 trước CN).

(15) bản dịch của Nhượng Tống (trong sách in) ghi là: "Một với là hai. Hai với một là ba." Đây hẳn là một lỗi ấn loát. Nguyên văn của câu này là: Nhất dữ ngôn vi nhị, nhị dữ nhất vi tam ,  Một với nói là hai. Hai với một là ba.
(16) nhân thường mà không nên: tức là dịch theo câu Hán văn nhân thường nhi bất thành . Ghi chú: Nguyễn Duy Cần dịch câu này như sau: "nhân mà thường thì không nên việc" (xem quyển II, trang 215). Câu chữ Hán này là một bản khác với nguyên văn dùng làm gốc trong blog này: nhân thường nhi bất chu  nghĩa là: nhân thường mà không khắp cả.
(17) ngoảnh mặt sang Nam: nghĩa là: "lâm triều, vua ra triều đình".
(18) nhái: nguyên văn chữ Hán thu  cá chạch.
(19) cỗ bàn: nguyên văn sô hoạn ;: loài thú ăn cỏ, hoạn: gia súc (dê, bò, chó, lợn...). Nói chung: thịt thà, cỗ bàn.
(20) Mao Tường , Lệ Cơ : tên những người đẹp thời xưa. Ghi chú: Bản chữ Hán ở đây ghi Tây Thi 西 (thay vì Lệ Cơ). 
(21) Cù Thước: nguyên văn Cù Thước . Bản dịch ghi là Cồ Tước.
(22) thấy trứng: nguyên văn kiến noãn . Sách in ghi sai thành "thấy trúng". 
(23) len lén: nguyên văn thiết thiết  (ở đây có người hiểu là:) rõ rệt, rành rành. Cả câu này: Nhi ngu giả tự dĩ vi giác, thiết thiết nhiên tri chi. Quân hồ, mục hồ, cố tai! , . , , ! Nguyễn Duy Cần (cuốn II, trang 237) dịch như sau: Nhưng kẻ ngu lại tự cho là họ tỉnh, rồi họ cũng tin thật rằng họ là bậc vua chúa, hay họ là kẻ chăn ngựa! Gàn thay! 
(24) bóng bóng: nguyên văn võng lượng  cái bóng mờ mờ ở chung quanh cái bóng thực.